Ý nghĩa Tết

Ý nghĩa Tết

Tết do chữ Tiết mà ra, là “thời gian” đặc biệt đã được ấn định trong năm. Theo Âm Lịch hay lịch ta, trong một năm có nhiều Tết, chẳng hạn như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, Tết Trùng Cửu, Tết Nguyên Đán hay Tết Cả. Tết quan trọng và lớn nhất trong năm của người Việt Nam là Tết Nguyên Đán (Nguyên là bắt đầu hay đầu tiên, Đán là buổi sớm mai) Nguyên Đán là ngày đầu tiên của một năm mới âm lịch, tức là ngày một một tháng Giêng ta. Vì Tết Nguyên Đán là Tết lớn nhất trong năm, cho nên người ta còn gọi là Tết Cả. Để khỏi nhầm lẫn với dương lịch, Tết Nguyên Đán cũng còn được gọi là Tết Ta .

Mâm ngũ quả ngày Tết

Người Việt Nam luôn luôn trọng nghĩa. Bất kỳ lễ lạc nào đều có sắc thái đề cao tổ tông. Ngày Tết cũng vậy, nhà nào cũng có tục lệ bày soạn mâm quả để dâng cúng tổ tiên ông bà. Ngũ là năm (5) vì vũ trụ được tạo bởi năm nguyên tố căn bản: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mâm ngũ quả thường gồm năm loại quả mà tên gọi có ý cầu mong một điều gì đó. Trong mâm quả thường hay có Mãng Cầu, tức là cầu chúc cho mọi điều đều như ý; có Dừa, vì âm “dừa” tương tự như là “vừa”, có nghĩa là không thiếu; có Sung, vì gắn với biểu tượng sung mãn về sức khỏe hay tiền bạc; rồi Đu Đủ, vì đó có nghĩa là mang một năm mới được đầy đủ thịnh vượng. Ngoài ra còn có Xoài, vì tên “Xoài” na ná như là “xài”, để cầu mong cho tiêu xài không thiếu thốn. Ngày nay, các mâm ngũ quả còn được chen thêm nhiều loại quả khác để cho thêm phần đẹp mắt, chẳng hạn như Dưa Hấu, Táo, Đào Tiên, Quýt …

Tục Mâm Quả ngày Tết là một nét đẹp của dân tộc Việt Nam, nó biểu tượng cho lòng biết ơn ông bà tổ tiên của mỗi người Việt, cũng như lòng ước mong một năm mới an khang, nhiều may mắn, tốt đẹp.dương lịch thì gọi là Tết Tây)

Mâm ngũ quả – Một tục lệ đẹp đầy nét nhân văn
Ngày Tết, gia đình nào cũng có mâm ngũ quả dâng lên bàn thờ tổ tiên, ông bà. Mâm ngũ quả bên cành đào, câu đối đỏ, bức tranh Tết, bánh chưng xanh… tạo nên khung cảnh ấm áp của mỗi gia đình khi Tết đến xuân về.
Không biết phong tục này có từ bao giờ, phải chăng vì đất nước ta vốn bốn mùa hoa trái, nhất là vào mùa Xuân hoa quả càng rộ. Hoa qủa là lộc của thiên nhiên, đất trời. Lộc Xuân càng quý. Dâng lộc trời, cúng ông bà, tổ tiên trong những ngày đầu Xuân thật là một tục lệ đẹp đẽ đầy nét nhân văn.
Cứ vào khoảng 28 tháng Chạp âm lịch thì nhà nhà đều cho bày biện một mâm ngũ quả kèm với nhiều sản vật khác trên bàn thờ. Mâm ngũ quả thường bày trên một cái mâm bằng gỗ tiện, sơn son, có chân, gọi là mâm bồng. Nếu không có mâm bòng, có thể bày trên một cái đĩa to, nhưng phải đặt trên chồng bánh chưng để tạo dáng cao, uy nghiêm, thành kính.
Mâm ngũ quả có 5 loại. Tại sao lại 5? Theo các vị cao niên, am tường về Nho giáo thì xuất xứ của mâm ngũ quả có liên quan đến quan niệm triết lý Khổng giáo của phương Ðông, thế giới được tạo nên từ năm bản nguyên – gọi là “ngũ hành”: Kim – Mộc – Thuỷ – Hỏa – Thổ, nghĩa là 5 yếu tố cấu thành vũ trụ. Còn theo quan niệm của dân gian thì “quả“ (trái cây) được xem như biểu tượng cho thành quả lao động một năm. Ông cha ta chọn 5 loại trái cây để cúng đêm giao thừa là ngụ ý rằng : Những sản vật này đựơc kết tinh từ công sức, mồ hôi, nước mắt của con người lao động, kính dâng lên đất trời, thần thánh trong giờ phút linh thiêng của vũ trụ vạn vật sinh tồn. Tư tưởng, hình ảnh ấy đã ăn sâu và tâm thức của người Việt Nam bao đời nay.
Ðã gọi là ngũ quả thì nhất thiết phải là 5 loại quả. Nhưng các vùng, các miền do mùa xuân hoa trái khác nhau, nên mâm ngũ quả cũng khác nhau như: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, hồng xiêm, táo…Mỗi quả mang một ý nghĩa:

Chuối – phật thủ: như bàn tay che chở.

Bưởi – dưa hấu: căng tròn, mát lành, hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn.

Hồng – quýt: rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt.

Ở vùng Thủ Dầu Một, ngày Tết hầu như nhà nào cũng có mâm lễ: Long – Lân – Quy – Phụng. Kết từ hoa quả – tứ linh hoàn toàn mang tính hình tượng như hoa quả kết thành “vật thực”, thể hiện lòng thành của con cháu tưởng nhớ gia tiên, cảm tạ ơn trời, ơn đất.
Mâm ngũ quả trong Nam cũng khác so với ngoài Bắc. Trên mâm ngũ quả ở ngoài Bắc thường có : Bưởi, đào, quýt, chuối, hồng. Có khi người ta thay bưởi bằng phật thủ hoặc lựu Mâm ngũ quả trong Nam vẫn cứ giữ nguyên truyền thống là mãng cầu, sung, dừa xiêm, đu đủ, xoài mà các bà thường quan niệm sơ đẳng là “cầu – sung – vừa – đủ – xài”.
Một mâm ngũ quả được bày dưới cùng là một nải chuối to già còn xanh, nải chuối đều, hoặc 2 nải chuối nhỏ ghép bên nhau như một chiếc bệ cong gồm 2 tầng nâng đỡ hoàn toàn hoa trái khác. Ở đây có sự phối hợp màu sắc, mâm ngũ quả đẹp là đủ màu sắc rực rỡ. Chính giữa bệ mâm xanh sẫm, trước đây bày quả phật thủ . Ngày nay ít trồng phật thủ nên thường thay bằng quả bưởi to, càng to càng đẹp. Bưởi chín vàng, tươi nổi bật trên bệ chuối màu xanh. Những quả chín đỏ đặt xung quanh, những chỗ khuyết dưới đặt xen kẽ quýt vàng và táo màu xanh ngọc, còn bao nhiêu lá xanh cố tình để sót lại ở cuống quả như hoàn thiện những nét trang trí cuối cùng.
Mâm ngũ quả đã làm quang cảnh ngày Tết và không gian cúng thêm phần ấm áp, rực rỡ mà hài hoà. Nó thể hiện sinh động ý tưởng triết lý – tín ngưỡng – thẩm mỹ ngày Tết. Tìm hiểu về mâm ngũ quả cũng là tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử, truyền thống tốt đẹp để chúng ta nhớ lại ông bà, tổ tiên.

Bánh chưng

Một trong những đặc trưng không thể thiếu của ngày Tết Việt Nam là bánh chưng xanh. Bởi vậy tục ngữ Tết của ta có câu:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh
Bánh chưng là một thứ bánh đặc biệt hoàn toàn Việt Nam, làm bởi gạo nếp đậu xanh, thịt mỡ, tiêu, hành, gói bằng lá dong hay lá chuối rồi “chưng” lên (hay nấu, luộc) trong nhiều tiếng đồng hồ cho chín nhừ.Cứ vào dịp Tết, người ta gói bánh chưng và làm bánh dầy cúng tổ tiên để tưởng nhớ tới công ơn tiền nhân hoặc để biếu Tết lẫn nhau. Ở nhiều địa phương, bánh dầy còn là lễ vật để tế thần ở đình của làng nữa. Đây là thứ bánh dầy thật lớn, có khi to bằng cái mâm, ngoài ra trước đây, bánh dầy còn dùng làm lễ vật trong các lễ cưới hỏi.Táo quân

Không khí Tết nhộn nhịp bắt đầu kể từ ngày “tiễn” Táo quân về chầu trời vào ngày 23 tháng Chạp (tức ngày 23 tháng 12 Âm Lịch) ,Theo tục cổ truyền của người Việt thì Táo quân gồm hai ông và một bà, tượng trưng là 3 cỗ, “đầu rau” hay “chiếc kiềng 3 chân” ở nhà bếp. Vào ngày này, Táo quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Đế (hay Ông Trời). Táo quân cũng còn gọi là Táo công là vị thần bảo vệ nơi gia đình mình cư ngụ và thường được thờ ở nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp “phù trợ” cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất trọng thể. Lễ vật cúng Táo công gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy. Màu sắc của mũ, áo hay hia ông Công thay đổi hàng năm theo ngũ hành.

Thí dụ: + Năm hành kim thì dùng màu vàng
+ Năm hành mộc thì dùng màu trắng
+ Năm hành thủy thì dùng màu xanh
+ Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ
+ Năm hành thổ thì dùng màu đen

Những đồ “vàng mã” này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công. Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý “cá hóa long” nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ “phóng sinh” (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng…v…v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v…v..) để tiễn Táo công.Sự tích Táo quân bắt nguồn từ Trung Hoa, truyện đã được “Việt Nam hóa” với nhiều tình tiết khác nhau. Tuy nhiên, các câu truyện vẫn nói lên “tình nghĩa yêu thương” giữa một người vợ và hai người chồng cũ và mới. Chính vì những mối ân tình đó mà ba người đều đã quyên sinh vì nhau. Thượng đế thông cảm mối tình sâu nghĩa đậm này đã cho về bếp núc ở gia đình… Bài vị thờ vua Bếp thường được ghi vắn tắt là “Định Phúc táo Quân” nghĩa là thần định mọi sự hạnh phúc. 

Đêm ba mươi

Đêm quan trọng nhất của năm cũ và năm mới là đêm 30 tháng Chạp (hay củ mật), tức đêm 30 Tết. Sở dĩ gọi là “củ mật” vì vào độ gần Tết, thường hay có trộm cướp cho nên nhà nào cũng phải phòng bị hết sức cẩn thận. Đặc biệt ở miền Bắc đêm 30 Tết, trời đất một màu đen, có khi hai người đi cạnh mà không nhìn thấy nhau, cho nên tục ngữ có câu “Tối như đêm 30 Tết” là vậỵ Xưa, đêm 30 Tết cũng còn là thảm cảnh của những người phải trốn nợ cuối năm vì không có tiền trẻ cho chủ nợ Thường thì chủ nợ cố đòi cho được vào cuối năm vì đầu năm mới “kiêng” đòi nợ, sợ “giông” cả năm. Bởi vậy người thiếu nợ phải trốn nợ cho tới khi nào gần giao thừa mới dám trở về nhà… Chính tục đòi nợ cuối năm mà người ta thường nói “giàu có ba mươi Tết mới hay”.Ngoài ra, đêm 30 Tết, theo tục xưa, là đêm quan trọng không kém ngày đầu năm. Ngay từ chiều ba mươi, người ta đã làm “cơm cúng” gia tiên và tối ba mươi là “đêm không ngủ” để chuẩn bị đón mừng Tổ Tiên về ăn Tết và đón giao thừa (tiễn năm cũ và mừng năm mới). Tục này đã có từ lâu đời và gọi là Lễ Thủ Tuế.

Chúc Tết và mừng tuổi

Sáng sớm mồng một Tết hay ngày “Chính đán”, mọi sinh hoạt ngừng lại, các con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng và mừng tuổi lẫn nhau. Theo tục lệ, cứ năm mới tới, kể cả người lớn lẫn trẻ con, mỗi người tự nhiên tăng lên một tuổi. Bởi vậy ngày mồng một Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên; và các người lớn thì “mừng tuổi” các trẻ em một cách cụ thể bằng những đồng tiền mới bỏ trong những “phong bao”. Tục này ở miền Nam quen gọi là “lì xì”. Tiền mừng tuổi mà mình nhận được trong ngày tết gọi là “Tiền mở hàng”. Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền chẵn). Ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.Về chúc Tết, trong ba ngày Tết, những thân bằng quyến thuộc, hoặc những người phải chịu ơn người khác thường phải đi chúc Tết và Mừng Tuổi gia chủ; sau đó xin lễ ở bàn thờ Tổ Tiên của gia chủ. Tục này ngày nay ít còn, vì thì giờ eo hẹp, đường xá xa xôi cho nên đã được thay thế bằng những thiệp “Chúc Mừng Năm Mới” hay “Cung Chúc Tân Xuân”

Kiêng kỵ trong ngày Tết

Đặc biệt ngày Tết người ta kiêng không dùng những từ hoặc hành động xấu có thể đem lại sự không may cho mình. Sự xui hay không may này sẽ làm cho mình bị “giông” cả năm.Đầu năm mới, người ta tránh chửi bới, giận dữ hay cãi lộn. Người ta cũng cố tránh làm đổ vỡ những đồ vật. Vận quần áo đen hay trắng nhân năm mới là xui vì đó là màu của tang tóc, tối tăm. Người ta tránh không đòi nợ (hay bắt nợ). Ngày tết, mọi sinh hoạt thường nhật đều đình chỉ, người ta “kiêng” không quét nhà và đổ rác vì sợ sẽ đổ hay vứt bỏ mất những sự may mắn tốt lành tới nhà mình trong năm mới. Tường thường người ta phải đợi đến ngày “động thổ” mới tiếp tục đổ rác và quét nhà!Đặc biệt, nếu có tang thì không nên đi xông nhà hay đi mừng tuổi người khác (để tránh cho người khác không bị xui như mình). Cũng vậy, đàn bà có thai thường “kiêng” không đi đâu cả trong những ngày đầu năm mới vì tục ngữ có câu: “sinh dữ, tử lành!”Ngày xưa, ở chốn thôn quê còn có tục “kiêng” để cối xay gạo trống không vào những ngày đầu năm. Bởi vậy, người ta phải đổ một ít lúa vào cối xay ngụ ý cầu mong năm mới lúc nào cũng có lúa gạo sung túc.

Khai bút Tân Xuân

Sự “khai bút” này nhằm mong mỏi đón nhận được mọi sự tốt lành nhân năm mới tới. Thường thường người ta phải chọn ngày và giờ tốt để khai bút. Nhiều khi sự khai bút cũng chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi; chẳng hạn như viết lên giấy hồng điều vài chữ: ngày, tháng, năm…. “khai bút đại cát” hay “tân xuân đại cát” (nghĩa là đầu năm mới khai bút để gặp được những điều tốt lành lớn).Đối với những danh sĩ thì đôi khi khai bút bằng cách làm một bài thơ đầu xuân bày tỏ nguyện vọng hoặc ý chí của mình. Những bài thơ khai bút này được viết lên giấy hồng điều (giấy màu đỏ) hoặc trên giấy hoa tiên (giấy có vẽ hoa) rồi dán bài thơ lên tường để thưởng xuân. Những người có chức vụ lớn như Tổng Đốc, Tuần Phủ, Tri Phủ, Tri huyện…. thì có lên Khai ấn và Khai triện. Tục này cũng được thực hiện ở các bộ đường ở kinh đô Huế dưới triều Nguyễn.Ấn và triện là những con dấu của những người giữ chức vụ chỉ huy trong chính quyền. Các vị này nhân đầu năm làm lễ khai ấn, triện bằng cách đóng dấu vào những giấy tờ công văn để cầu mong cho “thiên hạ thái bình” và dân chúng được “an cư lạc nghiệp”. Lễ khai ấn và khai triện thường được cử hành vào ngày khai hạ mồng 7 tháng giêng âm lịch. Đối với các quan võ thì có tục Khai kiếm nghĩa là dùng gươm chọc huyết (trâu bò) hay cắt tiết (lợn, gà, vịt) các con vật dùng trong các tế lễ….Còn dân chúng thì tùy theo nghề nghiệp của mình cũng làm lễ Khai trương cửa hàng hay công việc của mình bằng lễ cúng các vị tổ của các nghề gọi là “lễ cúng Tiên Sư” (thường là vào ngày mồng 9 tháng Giêng âm Lịch)

Xuất hành và hái lộc

Đầu năm mới, người Việt còn có tục xuất hành. Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần…Thường thường, người ta theo các hướng tốt, xuất hành đi lễ chùa, đền hoặc đi chúc Tết các bậc huynh trưởng, thân quyến hay bằng hữu. Đối với nhà nông ngày xưa, đầu năm mới xuất hành còn để chiêm nghiệm thời tiết. Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi, người ta có thể đoán được năm mới hên hay xui, chẳng hạn:Gió Nam: chỉ đại hạn
- Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc
- Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả
- Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải
- Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu
- Gió Đông: chỉ có lụt lớn….
Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người mình còn có tục bẻ lấy một “cành lộc” để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục “hái lộc”. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si, cây xương rồng… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc này thường đem về cắm ở bàn thờ Tổ Tiên

Tục cúng cơm

Để đón mừng Tổ Tiên về ăn tết, ngay từ đêm 30, mọi nhà đều làm cơm để dâng lên tổ Tiên, nôm na gọi là lễ cúng cơm. Lễ này kéo dài suốt trong các ngày Tết cho tới ngày “hóa vàng”, xem như Tổ Tiên đã về ngự trị ở trên bàn thờ, ngày hai bữa, người ta làm cơm cúng với những món quý nhất và ngon nhất như các món nấu cỗ: măng, nấm, miến, bong bóng, giò chả, bánh chưng…. Đặc biệt trên bàn thờ gia tiên đèn hương lúc nào cũng phải nghi ngút và không được để tắt. Do vậy, người ta thường dùng thứ hương đặc biệt là hương vòng hay hương sào (là những thứ hương có nhiều chiều dài và thân hương thật to có thể cháy với một thời gian khá lâu). Lễ vật đặc biêt cúng gia tiên ngày Tết là một con gà luộc. Người ta thích giữ lại đôi chân gà này, treo lên bếp để cho chân gà khô đi và sau này có dịp nhờ các thầy tướng số đoán hộ vận mạng năm mới hên hay xui.

Tục tảo mộ

Phong tục thuần tuý Việt Nam trong dịp Tết là tục tảo mộ cuối năm hay vào những ngày đầu năm mới. Vào những ngày cuối năm hay đầu năm, các gia đình thường tụ họp ở nghĩa địa để sửa sang, quét dọn phần của tổ tiên và những thân quyến quá cố. Họ đem hương hoa lễ vật bày ở mộ và “cung thỉnh” hương hồn những người quá vãng về nhà ăn Tết cùng con cháu…Tục tảo mộ Tết này, trước các thời kỳ chiến tranh vẫn còn được duy trì nhiều nơi ở miền Bắc và nhiều tỉnh ở miền Trung như ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa v.v… Theo sách “đại Nam thống Chí”, nhiều nơi ở miền Bắc nhất là quanh vùng Hà Nội còn có tục cả họ (nghĩa là tất cả mọi người trong cùng một gia tộc) tụ họp nhau lại để cùng đi tảo mộ tổ tiên và thân quyến quá cố, vào những ngày trước tết… Có nơi thì đi thăm mộ vào những ngày đầu năm. Tục tảo mộ Tết này được gọi là Lễ Tổ Lạp.Tục tảo mộ Tết này cho thấy ta khác với Tàu, vì chính lễ Thanh Minh tảo mộ của Trung Hoa là vào tháng Ba âm lịch, do đó thơ Kiều mới có câu:“Thanh minh trong tiết tháng Bạ
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh…”

Tục xông đất

Tục lệ xông đất đã có lâu đời ở nước ta. Người dân Việt Nam quan niệm ngày mồng Một là ngày đầu của một năm. Họ cho rằng vào ngày mồng Một, nếu mọi việc xảy ra suôn sẻ, mau mắn thì cả năm cũng sẽ được tốt lành thuận lợi. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối một năm, mọi người có ý tìm xem những người nào vui vẻ, linh hoạt, đạo đức, và thành công trong bà con hay láng giềng để nhờ sang thăm. Tục này gọi là tục xông đất. Người khách đến xông đất phải đến thăm sáng sớm ngày mùng Một (vì muốn là người khách đầu tiên), mang theo quà biếu như trái cây, bánh mứt, và tiền lì xì cho trẻ con trong nhà. Chủ nhà, do đã sắp đặt trước, sẽ tiếp đón niềm nở và nhận những lời chúc tốt lành. Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc Tết chừng năm mười phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước. Người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới. Tục trồng cây nêuMột trong những cổ tục khó thiếu trong những ngày Tết của Việt Nam là cây nêu. Nêu là một cây tre hay cây bương (một loại tre lớn rỗng ruột, thường dùng làm cột nhà hay máng nước). Ở ngọn cây tre hay bương này người ta đeo một vòng tròn nhỏ có buộc nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã; bùa trừ tà; cành xương rồng; bầu rượu bện bằng rơm; hình cá chép bằng giấy (để Táo quân dùng làm phương tiện về trời; giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung nữa…. Mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai… Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu…Đặc biệt vào buổi  tối, người ta treo một lồng đèn ở cây nêu để Tổ Tiên biết đường mà về nhà ăn Tết với con cháu. Trước đây, vào đêm trừ tịch cũng như ngày mồng một Tết, người ta còn đốt pháo ở cây nêu để mừng Tổ Tiên về ăn tết, mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không may.v.v… Ở miền Bắc, nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, là ngày Táo quân về trời. Chính vì từ ngày này cho tới đêm giao thừa, vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, mà người ta phải trồng cây nêu để trừ tà…. Tục hoá vàng và lễ khai hạ“Hoá vàng” là đốt các đồ “vàng mã” mà người ta bày cúng trên bàn thờ gia tiên trong dịp Tết.“Vàng mã” thường là: giấy vàng, giấy bạc (là một thứ tiền giả vàng và bạc lá làm bằng giấy) vàng thoi (những thoi vàng giả làm bằng giấy), bạc thoi… Người ta tin rằng nếu đốt các đồ vàng mã này đi thì người chết ở thế giới bên kia mới nhận được những lễ vật của mình dâng cúng. Có người còn cẩn thận đổ một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để những đồ cúng không bị thất lạc khi chuyển cho người nhận! Cẩn thận hơn, người ta còn hơ các cây mía tươi trên ngọn lửa hóa vàng để các cụ (tức Tổ tiên) có gậy chống về… âm phủ!Ngày hoá vàng không nhất định. Thường thì người ta hoá vàng vào ngày mồng 3 Tết, có nhà để đến mồng 7 hay mồng 10. Sau ngày lễ người đã khuất về bên kia thế giới, mọi sinh hoạt trong nhà dần dần trở lại bình thường. Lễ hạ nêu thì được cử hành vào ngày khai hạ mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Sau ngày này thì xem như hết Tết.

Âm thanh giao thừa

Trong lời nói cũng như trong văn viết chúng ta quen đọc, vào dịp Tết Nguyên đán, những câu chữ tuy đã rất cũ nhưng vẫn có sức gây cảm hứng mới: “đón xuân”, “Chào xuân”, “Chúc mừng năm mới”… Đặc biệt là những chữ xuân mới, năm mới,… cứ vang lên như một điệp khúc.Xuân mới, Năm mới, Năm sớm… không phải chỉ bắt đầu từ sáng mồng một mà bắt đầu từ đêm giao thừa. Giờ phút hồi hộp nhất, thiêng liêng nhất là lúc đón giao thừa. Mười hai giờ đêm ba mươi đã điểm, báo hiệu lúc giao điểm giữa năm cũ và năm mới, năm cũ sắp qua, hẳn là giao lại tất cả để năm mới đến ngay lập tức, thừa tiếp lấy tất cả. Chữ thừa ở đây có nghĩa kế thừa, tiếp nối.Giao thừa đánh dấu một bước ngoặt trong sự chuyển động của thời gian. Không những nó gợi ra ở mỗi những con người một cảm xúc “canh tân” trong đời thường mà còn gợi ra một cảm xúc “canh tân” trong vũ trụ. Tư duy triết lý xưa coi con người  ta là “tiểu vũ trụ” trong “đại vũ trụ”.Thời xưa đêm giao thừa, các cụ nhìn lên bầu trời xem “thiên tượng” (hình tượng của trời) để đoán niên vận (vận hội trong một năm). Nếu đêm giao thừa bầu trời chuyển từ màu tối sẫm sang màu sáng nhẹ thì đó là dấu hiệu của năm mới tốt lành…Để đón mừng sự “canh tân” của đời người cũng như của đất trời thì rất xa xưa ông bà ta đã tạo nên trong giờ phút thiêng liêng ấy những âm thanh náo nức không những rung động lòng người mà dường như rung động đến cả đất trời.Không chùa chiền đền miếu nào không vang lên tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng khánh, tiếng chuông… Không nhà thờ nào của đạo Thiên chúa không vang lên một hồi chuông nguyện. Không gia đình nào không bắt đầu ríu rít tiếng reo mừng của trẻ thơ và tiếng chúc nhau của những người trong nhà…Ngày nay, đêm giao thừa nói riêng và ngày Tết Nguyên đán nói chung không có tiếng pháo mà vẫn có thể rất vui. Không có tiếng pháo nhưng nên có những âm thanh sôi nổi, hiền hoà làm “nhạc hiệu” cho sự khởi đầu năm mới. Đó là tiếng chiêng trống, tiếng khánh, tiếng chuông… nổi lên đồng thanh, vang vọng vào lòng người, vang vọng vào bốn phương đất trời.

Chờ phút giao thừa

Những ngày giáp Tết dù không khí Tết có sôi lên sùng sục vẫn chưa là Tết. Già nửa đời người mới nghiệm được phút giao thừa là thời khắc mùa xuân nhẹ nhàng bước qua bậc cửa vào với ta. Lúc đó mọi hoạt động như lắng xuống, con người hồi hộp chờ đợi gì đó rất đỗi mơ hồ. ở người còn được sống lâu thì là những mơ ước, hoài bão lớn lao, xa vời. Người đã đi gần trọn cái vòng tròn do chiếc compa số phận vạch ra thì chỉ là những khắc khoải nhỏ nhoi. Nhưng đôi khi lại là những ý nghĩ táo bạo. ở cái điểm vòng tròn sắp khép kín rất có thể một làn gió nhẹ chỉ đủ làm rơi một cánh hoa đào nhưng cũng có thể xê xích vạch compa để có thể từ một ly đi một dặm. Có thể theo đà quay một vòng tròn mới xuất hiện. Cũng có thể chỉ là một đoạn cong phá cách của thời gian. Dù cách nào thì bức tranh cũng không tròn trịa nữa và dường như một nền nghệ thuật thật riêng tư mới ra đời. Không ai biết được con tàu vũ trụ tuột khỏi quỹ đạo sẽ đi tới đâu. Tư duy của chúng ta mới dừng ở các quỹ đạo, những vòng quay cố định. Người ta thường còn vượt khỏi quỹ đạo dù biết rằng ngoài thiên hà này còn có thiên hà nữa… Bạn hãy chờ phút giao thừa sắp tới và chiêm nghiệm những tư duy tôi vừa nói. Nếu cái vòng tròn phản lại chiếc compa thì núi lửa lại phun trào. Còn nếu như mọi chuyện êm đềm thì cũng là quá đẹp. Ta hãy bình tâm chờ phút mùa xuân tới.

Món ăn ngày Tết

Bánh Tét, bánh Chưng Từ một sự tích thiêng liêng trong lịch sử của dân tộc, về chàng Liêu, con thứ 18 của vua Hùng, ngày dâng lễ vật cho cha đã chọn thứ bánh làm từ nếp dẻo, đậu xanh và thịt lợn, gói vuông vức tượng trưng cho đất mẹ, để tỏ lòng biết ơn đối với ông bà tổ tiên. Rồi từ đó, bánh chưng đã được xem là món ăn không thể thiếu vào ngày Tết. Ở miền Nam còn có bánh tét, nguyên liệu cơ bản không thay đổi, nhưng dùng lá chuối để gói và có hình trụ. Người miền Bắc thường ăn bánh chưng với dưa hành muối, hòa quyện vị ngọt bùi béo ngậy của bánh với vị thơm hăng của hành. Từ Huế đến Sài Gòn, món ăn kèm lại đa dạng hơn, có thêm củ kiệu, dưa góp, dưa món… hoặc vài lát dưa leo. Món ngon các miền Người miền Bắc không thiếu được món thịt đông trong nhà ba ngày Tết, đây là món ăn dễ làm lại rất phù hợp với khí hậu mùa này. Món ăn khoái khẩu của người miền Trung là măng khô kho cuốn bánh tráng nhưng phải là măng giữa độ tháng Tám đến tháng Mười. Khi chế biến người ta phải qua nhiều lần sơ chế, luộc đi luộc lại để chắt hết nước dảo và làm mềm măng, dùng dao tước nhỏ thành sợi. Kho măng với thịt mỡ hoặc thêm vịt, gà là tùy khẩu vị từng người nhưng phải kho thật lâu từ 1-2 ngày cho gia vị thấm vào măng. Bánh tráng phải chọn loại làm bằng gạo lức Phú Yên, dẻo mà không quá mềm hoặc quá khô, vừa đủ dày và ngọt ăn kèm măng kho. Người miền Nam giản đơn hơn trong ăn uống nhưng cứ Tết đến lại thêm món thịt kho nước dừa, khổ qua dồn thịt, tàu hũ, mộc nhĩ, nấm hương, dưa chua, chả lụa… Các món đều có thể để dành được vài ngày, vừa để ăn vừa để đãi khách, không mất công nấu nướng nhiều, dành thời gian đi thăm viếng người thân, bạn bè hoặc du lịch, vui chơi.Bánh Mứt Người Việt có phong tục cứ đến Tết thì nhà nào cũng có món mứt trong nhà: từ mứt dừa, mứt gừng, mứt khoai… cho đến các loại mứt dẻo như mãng cầu, tắc, me, thơm…. Nhiều người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam ngạc nhiên khi thấy hầu hết trái cây, củ, quả gì người dân mình cũng có thể chế biến thành mứt. Ngày Tết, bên nhành đào hoặc nhành mai nở thắm, mỗi nhà đều có một khay mứt kèm một đĩa hạt dưa đỏ để khách khứa đến nhâm nhi bên tách trà lài, trà sen thơm ngát. Trước đây, mỗi nhà thường tự làm mứt nhưng cùng với sự phát triển của thị trường, hàng trăm thứ mứt ngon và đẹp mắt được bày bán sẵn rất tiện cho người tiêu dùng. Mứt đóng hộp có thể dùng làm quà biếu bạn bè, người thân để trưng bày trên bàn thờ tổ tiên trong ba ngày Tết. Trái cây Trên bàn thờ cúng ông bà tổ tiên ngày Tết không thể thiếu trái cây. Trái cây đơm trên bàn thờ phải tươi nguyên, còn cả cuống lá xanh để có thể trưng đến ra giêng mà không hư. Mỗi người có cách trưng trái cây trên bàn thờ khác nhau. Đơn giản có thể chọn nải chuối khéo chưng lên cao đan xen nhau cùng với dưa hấu, thơm, bưởi…; cầu kỳ hơn trưng bày trái cây trên bàn thờ theo nghĩa long, lân, quy, phụng khá công phu. Lại còn có cách trưng bày trái cây theo nghĩa “chơi chữ”: cầu (mãng cầu), vừa (dừa), đủ (đu đủ), xài (xoài). Tất cả hướng đến mong muốn cầu chúc mọi người trong gia đình dòng họ được sung túc, đầy đủ, trọn vẹn trong suốt năm.Tết Nguyên đán Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi “khai thiên lập địa” đã tiềm tàng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân-hạ-thu-đông và quan niêm “ơn trời mưa nắng phải thì” chân chất của người nông dân cày cấy ở Việt Nam… Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng …Ông Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày 23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới trần thế với Ngọc Hoàng. Bởi thế nên, trong ngày này, mọi gia đình người Việt Nam đều làm mâm cơm đạm bạc tiễn đưa “ông Táo “. Ngày ông Táo về chầu trời được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối, và cắm hoa ở những nơi trang trọng để chuẩn bị đón tết.Cùng với tranh (tranh dân gian, câu đối), hoa quả là yếu tố tinh thần cao quý thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa Đào, miền Nam có hoa Mai, hoa Đào, hoa Mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia đình người Việt Nam. Ngoài cành Đào, cành Mai, mấy ngỳa tết người ta còn “chơi” thêm cây Quất chi chít trái vàng mọng, đặt ở phòng khách như biểu tưong cho sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc…Tết trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nải chuối xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. Còn ở miền Nam, mâm ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ… Từ trẻ tới già ai ai cũng biết, sau đây là một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.Tống cự nghênh tân: Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, lau giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng. Con cháu trong nhà từ phút giao thừa trở đi được nhắc nhở không được nghịch nghợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy… anh chị, cha mẹ cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở, chúc nhau những điều tốt lành.Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi: Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ, thành đạt hơn năm cũ. Nhiều nhà tự đi hái lộc ở chốn đình chùa, nơi tôn nghiêm về nhà, tự xông nhà hay dặn trước người “nhẹ vía” mà mình thích đến xông nhà. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay lại đổ tại mình “nặng vía”. Chính vì vậy, sáng mùng Một lại ít khách. Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc tết thường là sức khoẻ, phát tài phát lộc, những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau “tai qua nạn khỏi” hay “của đi thay người” nghĩa là trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Nhưng nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta thường kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa. Phong tục ta ngày Tết việc biếu quà Tết, tỏ ân nghĩa tình cảm, học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ… quà biếu, quà tết không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: không có quà ngại không đến… Ở nước ta, vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát tuần, cửu tuần… tính theo tuổi mụ. Ngày Tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui. Cũng vào dịp đầu Xuân, người có chức tước khai ấn, học trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ, Nông, Công, Thương “Tứ dân bách nghệ” của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thông, làm ăn suôn sẻ. Sau ngày mùng Một, dù có mải vui tết cũng chọn ngày “Khai nghề”, “Làm lấy ngày”. Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì người bố cho phép vui chơi. Tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm… ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn hoá vàng.Vì sao có tục kiêng hót rác đổ đi trong ba ngày Tết: Trong “Sưu thần ký” có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thuỷ thần cho một con hầu tên là Như Nguyên, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mùng Một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó kiêng không hót rác ngày Tết.

Bánh Tét miền Nam

Nếu ở miền Bắc trong ngày Tết, giỗ kỵ, các lễ hội cổ truyền có bánh dày, bánh chưng để dâng cúng tổ tiên, thì ở Nam Bộ bánh tét được liệt ngang hàng, coi như bánh Tổ.Dân Nam Bộ chế biến bánh tét một cách tài tình và phong phú, tuỳ theo địa phương mà thêm thắt gia vị cho thích khẩu. Có chỗ gói nếp với nhân đậu xanh, còn gia đình khá giả thêm vào nhân đậu xanh một miếng thịt theo chiều dài đòn bánh. Cũng có chỗ không thuần nếp mà trộn lẫn đậu đen để tăng chất lượng vừa dẻo, vừa bùi.Đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngày xưa những gia đình giàu có, con cháu đông đảo, thường gói bánh tét đòn rất lớn. Khi tét bánh ra, khoang bánh tròn trịa, nằm gọn gàng trong lòng một đĩa kiểu trông khá đẹp mắt. Trung bình một đòn bánh đường kính cả tấc tây và độ nặng khoảng hơn một kí lô.Công việc gói bánh khá tỉ mỉ. Trước tiên, đem bếp và đậu đen vo sạch để ráo nước. Lá dứa đâm nhuyễn lọc lấy nước trộn hoà vào nếp. Đậu xanh cà, đãi vỏ để sống. Thịt ba rọi (nửa nạc nửa mỡ) cắt vuông vắn đặt theo chiều dài đòn bánh đã được ướp trước cho thắm vào hành, muối, đường. Có như thế, thịt vừa trong, vừa đẹp để khi tét bánh ra, thịt hoà tan vào nhân đậu xanh, ăn nghe vừa béo của thịt, vừa bùi của đậu, vừa dẻo của nếp, vừa thơm ngon.Mỗi lần gói bánh chí ít cũng 5-7 chục đòn, tuỳ theo khả năng tài chính của mỗi gia đình. Hai đòn cột thành một cặp, có dây quai để xách cho tiện, khi có làm quà tặng bà con một cặp vừa đẹp, vừa hợp với tập quán vì năm mới phải đủ đôi, chẵn cặp, ý chúc cho bà con đủ vợ, đủ chồng là niềm hạnh phúc thịnh  vượng. Bánh khi hấp phải thường xuyên canh chừng lửa, có khi từ đầu hôm hấp suốt đêm đến 6,7 giờ sáng mới vớt ra.Để bánh mau chín, các bà nội trợ thường áp dụng một số mẹo vặt, vắt chanh vào nếp hoặc ngâm nếp với nước khóm một thời gian chừng vài ba giờ. Không được ngâm lâu, sợ nếp rã thành bột. Lúc gói bánh, xếp lá chuối ở hai đầu, bẻ thành 4 góc rồi nức đòn bằng cọng lá chuối phơi khô cho dẻo, cắt nhỏ như dây lạc. Hiện nay, theo thời hiện đại, cũng có chỗ nức đòn bằng dây chỉ nhựa.Nhiều gia đình ăn chay, gói bánh tét nhân ngọt (không có thịt) nhân đậu xanh có trộn đường; hoặc bánh tét nhân chuối cũng được ưa thích, chuối thay cho nhân đậu xanh, đòn nhỏ một trái chuối, còn đòn lớn ba trái chuối xiêm chín có thêm đường để tăng độ ngọt cho nhân, khi chín có màu đỏ tím. Tét khoanh bánh ra trong lạ mắt, màu đỏ tím chính giữa nổi bật bên ngoài màu nếp trắng phau.Còn một loại bánh tét được chế biến khá đặc biệt nữa là bánh tét thập cẩm, vẫn bánh tét nếp, phần nhân được nâng cấp có trứng, tôm khô, lạp xườn, hột sen, thịt giò Bắc thảo, đậu phộng, nấm đông trộn chung với nhân đậu xanh. Dĩ nhiên, loại bánh này ăn rất ngon và thực hiện quả là tốn kém.Trong dịp lễ tết cổ truyền, giỗ kỵ… người Nam Bộ thường làm bánh tét đãi khách và làm quà biếu xén bà con gây thiện cảm. Những ngày đầu năm tét bánh ra đãi khách ăn với thịt kho tàu, chấm nước mắm, thật đậm đà hương vị ngày Xuân. Bánh tét ra giêng còn dư, nhằm đổi khẩu vị, người ta thường đem chiên với dầu hoặc mỡ phi tỏi, ăn thấy lạ miệng sau khi đã chán các món cao lương mỹ vị. Đây cũng là một loại lương khô rất tiện dụng cho du khách đi xa, leo núi hoặc người hành quân lâu ngày, bởi có thể để cả mười ngày, nửa tháng không bị mất phẩm chất.

Bản sắc Tết

Sinh hoạt văn hoá của một dân tộc thường biểu hiện rõ nhất ở những ngày Tết, ngày hội xuân. Người ta thường nói rằng ngày Tết là thời điểm hội tụ của sinh hoạt văn hoá dân tộc, và cũng từ những ngày hội xuân này mà nền văn hoá dân tộc được bổ sung, phát triển phong phú lên. Trong nhiều mặt sinh hoạt văn hoá đã trở thành tư tưởng, triết lý cách sống của cả một dân tộc. Dân tộc Việt Nam ta cũng nằm trong quỹ đạo đó. Thường vào những ngày Tết các đám cưới được tổ chức nhiều hơn. Mối giao du, đi lại viếng thăm giữa những người thân được diễn ra nhiều hơn. Trong cuộc sống, con người có lúc còn nghèo khổ, nhưng những ngày này ăn mặc tươm tất hơn, lòng tự trọng thể hiện rõ hơn. Mối quan hệ con người tốt đẹp hơn. Người ta nói và làm những điều tốt lành, sắm sửa bữa ăn bánh trái lúc này cũng được chú ý hơn.Những người có văn hoá trong ăn uống được dịp thể hiện tài ba khéo léo. Cũng như vậy người ta sáng tạo ra bánh trưng, bánh dầy v.v… Biết bao đời nay chúng ta đã quen thuộc hương vị những ngày Tết từ trong sáng tạo dân dã này lại thể hiện một tư tưởng, một vũ trụ quan (trời tròn, đất vuông). Ngày Tết cũng là ngày tưởng nhớ tổ tiên, tết nhất ông bà cha mẹ nội, ngoại, thầy học… Từ trong sự việc bình thường này lài mang một triết lý tốt hơn: Sống ở đời phải biết ơn những người đã có công lao nuôi dạy cưu mang mình.Vào ngày Tết, người Mường có tục Tết trâu bò, vật dùng trong sản xuất. Việc làm tưởng chừng như mộc mạc, sơ khai nhưng lại mang một triết lý khá hay: Con người phải biết quý trọng công cụ lao động thì lao động mới có hiệu quả. Ngày Tết cũng là ngày hoạt động văn hoá thể lực như: Bơi chải, đua thuyền, leo núi, đánh đu, vật, bắn nỏ, ném còn, đánh cờ… Đây cũng là mùa trẩy hội trai đua tài, gái khoe sắc gặp nhau trao duyên một cách lịch sự và lành mạnh. Các hoạt động sân khấu chèo tuồng: hội hoạ phát triển. Những cuộc giao duyên, đối đáp trong ngày Tết như trống quân, cò lả, hát ví dặm, xí lượn, hát chúc, séc bùa, quan họ Bắc Ninh… cũng bắt nguồn phần lớn từ đây. ở miền quê Thanh Hoá có dân ca Đông Anh, trò múa Xuân phả, hát hội, nhạc cồng chiêng với séc bùa, trống xàm, khua luống cũng bắt đầu từ đây và phát triển từ đây. Hiện tại không đoạn tuyệt với quá khứ. Ngày nay nếu đòi hỏi con cháu, học trò đều phải nhất nhất như xưa là một đòi hỏi không thích hợp. Bởi rằng, ngày hôm nay con cái không chỉ còn quây quần trong luỹ tre xanh của làng xóm. Nhưng sẽ là một sai lầm, nếu như Tết đến ai đó lại quá thờ ơ với ông bà, cha mẹ nội ngoại và thầy học. Ngày Tết với một mâm cơm và bánh chưng xanh, dưa hành thịt mỡ, một cốc bia. một ly rượu, quây quần bên những người thân, chúc mừng, nhắc nhở nhau làm điều tốt lành; lẽ nào con người ngày nay không cần đến nó? Hát hay, đàn giỏi ngày xuân giữa trai gái vùng này và vùng khác phải chăng là việc không làm được? Những phường bùa với dàn nhạc cồng chiêng và với những lời chúc tụng tốt đẹp đến với những bản làng xa gần phải chăng là không hấp dẫn và cổ lỗ…?

Quanh mâm cỗ Tết

Người Hà Nội có tiếng là khéo léo và lịch lãm trong việc chế biến, nấu nướng và thưởng thức các món ăn. Vào mỗi dịp Tết đến, sự khéo léo ấy càng được thể hiện rõ. Từ đầu tháng chạp, các bà nội trợ đã chuẩn bị sắm sửa để lo Tết: gạo nếp, đỗ xanh gói bánh, nấu chè… rồi đến các loại đồ khô như măng, miến Tàu, bóng bì, nấm hương. Và không quên chuẩn bị vại dưa hành. Nhà nào cũng mua một quả gấc chín đỏ để thổi xôi cúng tất niên, vì màu đỏ tươi của gấc được coi là may mắn, đem lại mọi điều tốt lành cho cả năm.Ngày 27 Tết, nhiều nhà bắt đầu ngâm đỗ, rửa lá dong. Rồi đãi đỗ, vo gạo, ướp thịt để gói bánh, không khí tất bật, náo nhiệt, tiếng gọi nhau í ới. Đêm 29, các nhà rục rịch bắc nồi, nhóm lửa để luộc bánh, mấy anh em tụm năm, tụm ba, người đánh tam cúc, kẻ chơi lơ khơ, hay chạy đi chạy lại lăng xăng làm “chân sai vặt của người lớn”. Bà và mẹ xào thịt thủ hoặc thịt chân giò, trộn mộc nhĩ để gói giò. Chị thoăn thoắt đảo hạt bí sao cho khỏi cháy.Có một món các bà nội trợ đảm đang không thể quên, là nồi cá kho riềng. Một lớp riềng thái mỏng lót đáy nồi, những miếng cá được rán qua xếp lên trên, muốn ngon hơn thì thêm ít thịt dọi lẫn vào để cà thêm ngọt và béo. Miếng cá kho riềng thơm, thịt chắc, đậm đà ăn với bánh chưng, dưa hành thật lạ miệng, mang đậm hương vị Tết. Sáng 30, bánh chưng được vớt ra, nén xong treo từng chùm. Đàn bà, con gái tập trung vào bếp làm thịt gà, nấu nướng.Mâm cỗ Tết cổ truyền của người Hà Nội không thể thiếu món giò lụa cho thêm phần sang trọng. Cả mâm, đủ lệ bộ là bốn bát, sáu đĩa. Bát bóng nấu với chân tẩy, thịt lợn nạc và nước dùng gà, sang hơn thêm ít tôm nõn. Chân tẩy là các loại củ như su hào, cà rốt được thái mỏng theo hình hoa cho ngon và đẹp mắt. Bát miến nấu lòng gà. Bát măng kho ninh với chân giò điểm vài củ hành hoa lên trên. Còn sáu đĩa là: đĩa xôi, thịt gà luộc, thịt đông, đĩa xào, đĩa giò lụa (hoặc giò xào) cá kho riềng, thêm đĩa nộm và dưa hành trắng muốt.Một số nhà giàu có ở Hà Nội xưa, còn có thêm một số món ăn cao cấp như: long tu, măng tây, vây, bóng thủ, nấm thả, chim hầm… Ngoài thịt gà luộc còn có gà rán hay thịt kho tàu, hạnh nhân xào, lạp xưởng, trứng muối, địa nộm bằng rau câu trộn với thịt. Người Hà Nội vốn chuộng hình thức, nên mâm lễ ngày Tết được bày biện khéo và đẹp mắt. Đĩa xôi gấc đỏ tươi, các món nấu được rắc hành, rau thơm lên trên xanh mướt. Đĩa nộm nhiều màu sắc hài hòa, rau mùi xanh, ớt đỏ, lạc rang vàng và su hào trắng, chỉ nhìn củng thấy ngon. Đó là mâm cỗ Tết của người Hà Nội, không chỉ ngon, bổ, mà nói như các cụ là còn được “Ăn cả bằng mắt”.Còn ở Huế, ngày Tết gói bánh tét. Bánh tét được gói bằng lá cuối với các nguyên liệu như bánh chưng, chỉ khác là gói dài thành đòn như bó giò. Khi ăn cắt thành từng khoanh, ở giữa nhân đậu xanh và thịt mỡ nổi lên như những nhụy hoa. Ngoài ra, Tết ở Huế còn một số loại bánh đặc trưng như bánh phu thê (susê), bánh hỏi, bánh sen chấy, bánh măng, bánh dừa mận.Các món ăn mặn trong cỗ Tết ở Huế cũng có nhiều cái khác Hà Nội. Ngoài những món thông thường như thịt gà, thịt lợn… Người Huế đặc biệt thích các món chua nhẹ dễ tiêu như món gỏi gồm: đu đủ  xanh, giá sống, vừng, lạc, thịt ba chỉ, tôm, da bò rá trộn giấm, đường, tỏi, ớt, ngò. Cỗ Tết còn có các món đặc biệt là món xà lách gân bò, chả tôm, nem bọ lụi, ăn một lần thật khó quên.Tết ở Sài Gòn không lạnh như Hà Nội. Ăn Tết cũng không cầu kỳ như Hà Nội và cũng không nhiều món phức tạp như ở Huế. Món ăn ngày Tết đơn giản, “khoái khẩu là được”. Tết mà thiếu bánh phồng, bánh tráng thì coi như “ăn Tết một nửa”. Những chiếc bánh nở tròn, xốp, thơm phức, làm bằng nếp được nướng bằng lửa rơm. Khác với miền Bắc, miền Nam ăn Tết bằng bánh tét, có nơi còn trộn thêm tôm khô, lạp xưởng vào để gói bánh. Mâm cỗ Tết bao giừ cũng có bánh tét, thịt kho, dưa giá, kiệu muối và nem bì. Cỗ Tết của người Sài Gòn nhiều đồ nguội, chỉ có hai bát nấu là chân giò hầm với mấy vị thuốc bắc, món mướp đắng bỏ ruột nhồi thịt, hầm nhừ.Người Sài Gòn ăn thịt gà không chặt mà thích xé phay. Gà luộc xé miếng, trộn giấm kèm hành tây thái mỏng thêm các loại rau, gia vị, thơm ngon. Mâm cỗ Tết bao giờ cũng phải có món chả giò (là món gần giống như nem rán ngoài bắc) gói nhỏ bằng ngón tay cái, chiên vàng rộm trông thật “bắt mắt”… Sau “ba cái ngày Tết”, ăn uống “nặng nề”, người Sài Gòn ra giêng có cái thú với món cháo cá nấu ám, bổ dưỡng mà nhanh nhẹ, đưa đẩy mấy ngày xuân lai rai.Nói về mâm cỗ Tết trên đất nước ta thật phong phú, nói sao cho đủ. Trong những cái chung nhất lại ánh lên những nét riêng, độc đáo. Quanh mâm cỗ Tết là lúc ông bà, cha mẹ, con cháu họp mặt vui vẻ, quây quần bên nhau, tưởng nhớ tổ tiên, là tình cảm gia đình đầm ấm, tình người lan tỏa trong sắc xuân.

Tranh Tết dân gian

Đông Hồ, làng nhỏ miền quê tôi bên bờ sông Đuống giống như bao làng khác, mái rạ bờ tre. Những người nông dân bao đời lam lũ cấy lúa trồng cà, bàn tay chai sần dầm trong đất. Nhưng chính những bàn tay ấy, từ xa xưa, đã vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp, làm hình thành dòng hội họa dân gian nổi tiếng. Và Đông Hồ trở thành một địa danh văn hóa quen thuộc với mọi người. Người họa sĩ đồng quê Đông Hồ thể hiện tâm hồn xứ sở lên ngọn bút. Dân làng gọi họ là người “ra mẫu tranh”. Họ vẽ tranh bằng bút lông chấm mực tàu thể hiện trên giấy bản. Những đường nét tài hoa “thần bút” đã hình thành trong cơn cảm hứng ngất ngây. Sau đó tranh nét được khắc trên ván gỗ thị vàng ươm. Chỉ khắc trên gỗ thị vì gỗ thị mềm, mịn, dai. Ngọn dao khắc sắc lẻm tung hoành trên phiến gỗ thị làm nên những bản khắc quý giá.Bản khắc được in trên giấy điệp. Tờ giấy điệp cũng là một kỳ công của kỹ thuật chế tạo giấy đời xưa. Đông Hồ có những đoàn người lên rừng tước vỏ cây dó. Vỏ dó được giã nhuyễn, ninh kỹ, hớt lấy những sợi tơ mềm như mạng nhện. Sợi tơ đan dệt nên tờ giấy xốp, dai, mềm mại như lụa, gọi là giấy dó.Những đoàn trai Đông Hồ khác lại ra miền biển tìm mua vỏ sò, hến, trai, điệp… đem về nung như nung vôi. Chất liệu ấy vụn như cám và có màu óng ánh xa-phia gọi là điệp. Điệp trộn với hồ quết lên giấy dó thành tờ điệp.Và tranh Hồ được in trên tờ điệp. Họa sĩ dân gian Đông Hồ xưa tô màu tranh bằng chất liệu hoàn toàn lấy trong thiên nhiên. Lá tre đốt ủ kỹ làm màu đen. Lá chàm cho màu xanh. Rỉ đồng cho màu lam. Nhựa thông cho màu hổ phách. Quả giành giành cho màu vàng. Son đồi cho màu đỏ. Vỏ trứng giã nhỏ trộn hồ cho màu trắng. Chất liệu tự nhiên ấy đã làm nên sắc màu kỳ diệu quý giá của bức tranh dân gian Đông Hồ.Dòng hội họa Đông Hồ qua bao đời đã sản sinh ra hàng trăm tác phẩm nổi tiếng. Bộ Tố nữ vẽ bốn “hoa hậu” Việt thời xưa – đó là những Venus phương Đông. Tranh Hứng dừa có sắc màu vừa trữ tình vừa hài hước. Chàng trai trèo lên trẩy dừa ném xuống cho cô gái. Cô không đón bằng tay mà tốc váy đón  dừa. Nhìn tranh người xem không khỏi mỉm nụ cười vui. Bức Trạng Chuột kiệu anh đi trước, võng nàng đi sau diễn tả vẻ tưng bừng của ngày vinh quy. Bức Thầy đồ Cóc là ảnh hình của “nền giáo dục” thời xưa. Bức Đánh ghen là tiếng cười phê phán chế độ đa thê.Tranh Đông Hồ nhiều, nhưng quen thuộc nhất, nổi tiếng nhất có lẽ là tranh Gà, tranh Lợn. Hãy để ít phút giây ngắm bức tranh Lợn lạ lùng của nền hội họa dân gian. Bức Lợn nái ăn dáy thật đẹp. Lợn được cách điệu lạ mắt. Đặc biệt là cái khoáy tròn âm dương. Làm sao có thể nhìn những cái xoáy lông trên mình con lợn thành cái khoáy âm dương của triết học cổ được! Đó thật sự là sự thần tình của người họa sĩ dân gian. Đó là thần bút! Bức Đàn lợn mẹ con cũng vậy. Trên mình con lợn nào cũng có khoáy âm dương!Thời xưa, tháng chạp là tháng bán tranh Tết. Khắp các chợ cùng quê đều có những người đàn bà Đông Hồ nón ba tầm, áo dài thắt vạt, đòn gánh cong quẩy hai bồ tranh đi bán.Người đi sắm hàng Tết thường không bao giờ bỏ qua hàng tranh. Dăm tờ xu lẻ đã mua được một bức Tiến tài, tiến lộc, Phú quý, Vinh hoa về dán cửa nghênh xuân gửi gắm ước mơ. Người nông dân ước mơ cụ thể hơn. Một bức tranh Gà Lợn dán vách, cũng là sự gửi gắm đợi chờ năm mới gà sinh sôi đầy chuồng.Tranh Đông Hồ có từ bao giờ, không ai biết. Chỉ biết từ xa xưa lắm rồi, cứ sang tháng một – chạp, thuyền các xứ Đông xứ Đoài đã về áp mạn đê sông Đuống cất tranh (mua buôn) đem về các vùng quê bán lẻ. Nghề tranh tùy thời, khi thịnh khi suy, nhưng chẳng bao giờ tàn lụi hẳn.

Vại dưa hành

… Đó là thứ hành không để làm gia vị cho thịt thà, bún phở. Nó sẽ hoá thân trong mặn mòi, ép xác để thành món dưa hành không thể thiếu trong những ngày Tết cổ truyền. Bà mẹ mua một rổ về, ngâm trong nước gio một ngày đêm, rồi bóc vỏ già nhưng để nguyên cái cuống còn chút rễ, một là để cho đỡ hăng, hai là để cho khỏi ủng, và chuẩn bị cho vại dưa hành ăn tết. Mẹ hướng dẫn cô con gái: Phải để hành ở dưới, đặt dưa, từng tầu rửa sạch, lên trên, rồi mới nén. Cô con gái khăng khăng cãi lại: Để hành lên trên chứ mẹ, vì hành ngon hơn, ăn hết nhiều hơn, như thế dễ lấy hơn. Bà mẹ độ lượng cười: đúng là hành ăn ngon hơn, chóng hết hơn, nhưng dưa lại chóng “ngấu” hơn, khi hành chín ăn được vớt ra liễn nhỏ, mỗi bữa lấy từ liễn nhẹ nhàng hơn, không phải bê cái cối đá nặng chình chịch, không phải thò ngập cánh tay vào vại. Và như thế cũng không ảnh hưởng gì đến tàu cải, cải ngồng, thứ cải Đông Dư bên Gia Lâm, và ta sẽ có món ngon kỳ lạ, tuy là vai phụ trên mâm cỗ, chỉ là để đưa đẩy, điểm xuyết, nhưng nếu không có nó thì dù mâm cao cỗ đầy, dù giò lụa, thịt gà, ninh mọc… cũng sẽ chóng ngấy, ngại ngần cho đôi đũa. Phụ mà hoá chính. Bởi cái lưỡi vào lúc ngại cái béo cái nồng, mà gặp một vị chua mềm, chua thanh, thảnh thơi ngòn ngọt ngoài dư vị của củ hành vàng tươi, trong trắng nõn, nghe ròn tan giữa hai hàm răng, mang dáng hình hơi dẹt của sức nặng đá đè hàng tháng, món dưa hành ấy sẽ thành hồi trống của đêm hội làng, thành thứ son tươi cho đôi môi cho cô gái, thành chén nước lã trên bàn thờ, thanh sạch múc ngay ngoài bể nước mưa, cạnh những hương hoa quý giá khác…Tết đến, trừ một vài đô thị lớn có dịch vụ, hàng chục chum to nơi chợ lớn, thì hầu như nhà ai cũng làm một vại dưa hành gồm dưa cải và hành củ. Hành trắng ngon hơn hành tía, hành tía hăng hơn, lâu “chín” hơn.Dưới đáy vại dưa, bao giờ cũng là mấy tấm mía róc sạch vỏ, màu trắng ngà như một thứ ngà voi, xếp ngang xếp dọc vài lớp trước khi những hành củ được nằm trong vại, dùng mía và giát giường, hành là người khách lưu trú mấy chục ngày đêm. Hương mía và vi ngọt tạo thành thứ men, không làm say nhưng kích thích như một hương nước hoa thoang thoảng cho ta thấy người đã khuất mà lòng còn mê mẩn. Đồng thời mía còn làm cho dưa hành có màu vàng chanh, vàng tươi, vàng ửng, màu vàng làm đẹp cho mâm cỗ tết, kích thích cái nhìn thực khách từ giây phút đầu tiên nâng chén. Cái vại hành ấy tháng ba là vại cà nén mặn ăn cả mùa hè. Còn tháng Một, nó là vại dưa hành quen thuộc, yên lòng cùng muối mặn, không còn một chút mùi kháng mùi nồng nào, nó tinh khiết như sinh ra để người nghèo chuyên cho nó một hoàn cảnh ấy, vượt xa những thứ đồ đồng, đồ nhôm, đồ nhựa tân kỳ nhưng không thích hợp, không thể sánh bằng đất, nước non qua cửa lò ngùn ngụt, thành tiếng kêu như chuông, như khánh.Chuẩn bị ăn tết, ngoài con lợn trong chuồng thì vại dưa hành được nghĩ đến đầu tiên, xuất hiện đầu tiên dưới mái nhà nghèo, trong những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên đổ vào báo hiệu một hai tháng nữa là xuân đến.Và có lẽ chính vại dưa hành ấy cũng sẽ hết sau cùng, dù xuất hiện đều đều trong các bữa tết và sau tết, trong mâm cơm thường đến cỗ tất niên, mâm cỗ mừng xuân hay mâm cỗ “hoá vàng” hôm mồng bốn để chia tay người nhà lại ra đi, năm sau mới trở về. Và ra giêng, hành gắp lên đĩa, còn dưa lại hoá thân lần nữa thành món canh dưa, nấu với lạc nhân giã dập, nấu với cá lẹp anh đánh giậm bán ở chợ đầu làng, hay nấu với thịt bò chỗ cái bắp hoa… đều rất ngon như ngự thiện. Chỉ có tết mới có dưa hành. Và nếu không có dưa hành không thành cỗ tết, như cúng mà không thắp hương, như ăn hỏi mà không có trầu cau, như yêu nhau mà chẳng ngỏ lời… Chả thế mà nó đã vào ca dao:Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ…Ông com lê, cụ cà vạt, bà áo nhung, chắc ai đã là người Việt Nam, biết đón cái tết Việt Nam xum họp, biết ăn ngọn rau muống luộc với quả cà, thì không thể không yêu mến món dưa hành. Và ai chưa ăn dưa hành, chắc chưa phải người Việt Nam. Bản sắc chứa đựng nếp sống dân tộc đó, chẳng cần tìm đâu xa, chẳng cần lý luận dài dòng trong miếng ăn, hớp uống… Cha đời con gái làng La
Làm dưa dưa khú, muối cà cà thâm…
Không phải con gái ở đây vụng về, mà ngược lại, họ quá đảm đang, tần tảo, hết vào khung cửi lại xuôi ngược đông đoài mua tơ, bán lụa, nên chẳng còn thì giờ lo bếp núc, tương cà. Mọi việc đều phó thác cho “cánh đàn ông”, nên sinh ra thế.Ngày thường món thịt quay phải kèm theo củ kiệu muối. Có hôm kiệu lại quá sống, có hôm lại quá chua. Dưa hành không thế. Bữa đầu tiên cho đến bữa cuối cùng, diễn ra hàng tháng, miếng dưa còn mang hình một  mảnh buồm cánh dơi căng gío, miếng hành vàng tươi, đã dẹt vết thời gian, vẫn cứ dìu dịu, thơm thơm, chua giòn, nâng đỡ mọi món ăn khác, đẹp lòng người già, con trẻ thật thật tình.Đĩa dưa hành trên mâm cơm mâm cỗ, bao giờ cũng được bóc nõn, cắt cỏ cái chùm rễ nhỏ, bỏ đi cái áo bên ngoài, nên có tinh tươm, toả ra cái lời mời mọc mơ hồ… và hầu như thành  lệ, người ta ngồi vào mâm không xục đũa bới tung món giò lụa hoặc thịt gà quay, mà trước hết, nhẹ nhàng gắp củ hành nén ấy đưa lên thưởng thức như một thứ khai vị, một thử thách tài làm cỗ của chủ nhà, vừa tỏ ra thanh lịch, khảnh ăn.Nhỏ bé, rẻ tiền nhưng món dưa hành đã thành cái “thần” của mâm cỗ Tết. Có đúng thế không nhỉ?

Ngày xuân với mốt chơi thư pháp

Nói đến thư pháp thì ai cũng nghĩ ngay đến hình ảnh ông thầy đồ áo dài khăn đóng nghiêm trang múa ngọn bút lông để tạo nên những nét chữ mực Tàu thần kỳ trên tấm liễu đỏ. Và rồi những nghệ sĩ thư pháp người Hoa xuống “tấn” dùng “nội công bay nhảy” như phim kiếm hiệp để viết trên những tấm liễu, tấm phướn khổ rộng dài cả chục thước vậy. Những tác phẩm thư pháp hoàn toàn có giá trị nghệ thuật không thua gì những tác phẩm hội họa nổi tiếng trên thế giới nhưng không phải ai cũng ưa chuộng việc  chọn cho mình vài bức thư pháp để treo trong phòng làm việc, phòng khách… Vậy mà bước vào thiên niên kỷ mới này, thư pháp được nhiều người tìm mua để trưng tạo nên một mốt chơi mới rất tao nhã và mang tính nghệ thuật cao, phải chăng những giá trị văn hóa của con người sẽ không bao giờ mất đi. Mốt chơi thư pháp bây giờ người ta không chỉ thuần túy là câu chữ, hàng chữ, câu đối có ý nghĩa nữa mà như một cách tâm niệm về một câu nói hay đầy ý nghĩa. Những bức thư pháp được lồng trong khung trang nhã, thường là có viền màu đen, màu đỏ, hay màu xám bạc, rồi được đặt trang trọng tại phòng khách, phòng làm việc với 4 hoặc 6 ngọn đèn halogen chiếu vào trọng tâm và các góc cạnh nhằm nổi bật phần hồn của từng nét chữ thư pháp. Trong khi những người Hoa đều thích những bức thư pháp như “Mã đáo thành công”, “Long Mã tinh thần”… thì người Việt lại thích những bức có vẻn vẹn chữ “Phúc”, “Tâm”, “Nhẫn”,… giá trị của một bức thư pháp thường đi kèm với lịch sử của nó cũng như lịch sử của chủ nhân nó, và có thể từ vài trăm ngàn đến vài trăm USD tùy thuộc vào những yếu tố vừa nêu. Bên cạnh thư pháp viết bằng chữ Hán theo phong cách trung Hoa thì trong khoảng gần một năm nay ở TP.HCM cũng đã xuất hiện nhiều bức thư pháp viết bằng tiếng Việt độc đáo về nét chữ lẫn về nội dung được nhiều người chơi thư pháp tìm mua khá nhiều. Người khơi nguồn cho thư pháp viết bằng tiếng Việt không ai khác hơn là ông Nguyễn Thanh Sơn. Ông Sơn xuất thân từ một kiến trúc sư và ông có công ty xây dựng riêng, nhưng ông chỉ cho rằng mình là người yêu thích thư pháp chứ không phải là nhà thư pháp như nhiều người nghĩ về ông như vậy. Thông qua gần 100 tác phẩm thư pháp tiếng Việt thuộc các thể loại thơ, danh ngôn… được chọn lọc kỹ lưỡng trên các chất liệu giấy, vải, kính… như “Làm việc gì trước hết phải biết nghĩ đến nhân quả”, “Vinh nhục như bong bóng nước”, “Cõi tạm”, “Phù vân”,… tạo cho người xem luôn phải suy nghĩ chiêm nghiệm lại cuộc đời mình hướng đến một cuộc sống đúng đắn hài hòa hơn. So với thư pháp tiếng Hán, thư pháp tiếng Việt hoàn toàn rất mới mẻ nhưng vẫn thu hút nhiều người tập viết lẫn người chơi sưu tập vì hầu như ai cũng tâm niệm rằng áp dụng nghệ thuật thư pháp vào chính nét chữ của dân tộc mình là một niềm tự hào, hãnh diện cũng như thích thú biết bao. Và bằng chứng là hiện nay có trên 70 hội viên đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ những người yêu thích thư pháp tiếng Việt thuộc Trung tâm Văn hóa Quận 1. Những bức thư pháp tiếng Việt của ông Nguyễn Thanh Sơn cũng như các hội viên câu lạc bộ những người yêu thích thư pháp tiếng Việt đã góp thêm điểm son cho văn hóa Việt Nam nói riêng. “Tôi đang bàn với nhà tạo mẫu áo dài Liên Hương để thể hiện những bức thư pháp tiếng Việt trên áo dài Việt Nam”. Ông Nguyễn Thanh Sơn bộc lộ tâm huyết của mình với thư pháp tiếng Việt như vậy trong kế hoạch phát triển mốt chơi thư pháp qua năm 2001. Có lẽ những nét chữ viết bằng cọ, có nét lớn, có nét nhỏ uyển chuyển có thần, chữ và bút hòa vào nhau như một mà người xem cảm nhận qua từng nét chữ, từng lời trong câu được viết nên trên vải, giấy,  rồi hút cả vào trong tâm hồn chắc là sự hấp dẫn của mốt chơi thư pháp – một lối chơi tao nhã, lắng đọng, hướng về những cội nguồn văn hóa dân tộc với nhiều giá trị lớn lao. 

V× sao 12 con gi¸p ?

Cã ý kiÕn cho r»ng ®ã lµ nh÷ng con vËt ®­îc nu«i hoÆc th­êng gÆp, th­êng thÊy trong cuéc sèng cña ng­êi lao ®éng thuë x­a. Cã nhiÒu tÝnh c¸ch phï hîp víi con ng­êi, kh«ng v« tri v« gi¸c nh­ nh÷ng vËt thÓ kh¸c. Häc gi¶ Hång Tèn ®êi nhµ Tèng th× cho r»ng c¸ch tuyÓn chän cña ng­êi x­a lµ c¨n cø vµo c¸c con vËt cã ngãn ch©n. Nh÷ng con vËt ë ®©y, ch©n tr­íc còng nh­ ch©n sau, ch©n ph¶i còng nh­ ch©n tr¸i ®Òu cã sè l­îng ngãn ch©n nh­ nhau, dï 2 hoÆc 4 ch©n (tr©u: 4; hæ: 5; r¾n tuy kh«ng ch©n nh­ng còng thuéc lo¹i guèc ch½n nh­ bß, dª…). Riªng mçi loµi chuét, ch©n tr­íc 4 ngãn, ch©n sau 5 ngãn, v× qu¸ ®Æc biÖt nh­ vËy nªn ®­îc xÕp vµo vÞ trÝ hµng ®Çu trong 12 con gi¸p.

Mét ý kiÕn kh¸c gi¶i thÝch r»ng thuë x­a mçi ngµy ®ªm ®­îc chia thµnh 12 thêi kh¾c. Ng­êi x­a ®· chän ra 12 con vËt, mçi con phï hîp víi tõng thêi kh¾c trong ®ã, c¨n cø vµo sù Èn hiÖn hµng ngµy cã tÝnh quy luËt cña nã. Theo ®ã th× giê tÝ (23g-1g) lµ lóc loµi chuét ho¹t ®éng m¹nh mÏ nhÊt, giê söu (1g-3g) lµ lóc tr©u chuÈn bÞ ®i cµy, giê dÇn (3g-5g) lµ thêi ®iÓm hung h·n nhÊt cña loµi hæ. Giê m·o lµ lóc mÌo chuÈn bÞ vµo bÕp ®Ó ngñ, giê th×n lµ lóc rång tô häp l¹i ®Ó lµm m­a, giê tþ lµ lóc r¾n trë vÒ hang, giê ngä lµ lóc khÝ ©m s¾p söa s¶n sinh do ngùa thuéc loµi ®éng vËt cã tÝnh ©m. Giê mïi lµ lóc cá bÞ dª ¨n sÏ mäc l¹i m¹nh nhÊt, giê th©n lµ lóc khØ thÝch kªu la, giê dËu lµ lóc gµ ®i ngñ, giê tuÊt lµ lóc chã lo gi÷ nhµ vµ cuèi cïng lµ giê hîi lóc heo ®· vµo chuång ngñ say. Thø h¹ng 12 con gi¸p ®­îc h×nh thµnh tõ c¸ch tuyÓn chän nµy. Nh­ng vÞ trÝ hµng ®Çu cña “«ng tÝ” cã lÏ v× khã cã thÓ gi¶i thÝch cho hîp lý nªn x­a nay ng­êi ta ph¶i dïng ®Õn c¸c c©u chuyÖn cæ tÝch hoÆc thÇn tho¹i. Trong c¸c c©u chuyÖn nãi vÒ sù tranh giµnh ®ã víi tr©u, con vËt cã thÓ x¸c lín nhÊt trong 12 con gi¸p, chuét tuy nhá bÐ nh­ng lanh lîi vµ th«ng minh.

Kh«ng riªng g× ViÖt Nam, 12 con gi¸p còng ®­îc sö dông ë nhiÒu n¬i trªn thÕ giíi. 12 con gi¸p ë Babylone cæ ®¹i lµ mÌo, chã, r¾n, bä hung, lõa, s­ tö, dª ®ùc, tr©u ®ùc, chim c¾t, khØ, sÕu ®á vµ c¸ sÊu. Ên §é th× kh¸c ViÖt Nam ë chç kh«ng cã hæ, mÌo vµ gµ, mµ thay vµo ®ã lµ s­ tö, thá vµ con kim kiÒu. §ã chÝnh lµ 12 con vËt mµ c¸c vÞ thÇn ®· dïng ®Ó c­ìi, cã nguån gèc tõ mét ®iÓn tÝch trong c¸c kinh PhËt cña Ên §é. Mehico còng cã 12 con gi¸p mµ 5 con trong ®ã gièng nh­ ë n­íc ta lµ hæ, rång, khØ, chã vµ heo. Ph¸p th× dïng 12 ng«i sao thay cho c¸c con vËt, ®ã lµ Ma yÕt, B¶o b×nh, Song ng­, D­¬ng c­u, Kim ng­u, Song tö, Cù gi¶i, Hïng s­, Xö n÷, Thiªn xøng, Thiªn yÕt vµ Nh©n m·.

Nh÷ng phong tôc ®Ñp ngµy TÕt

Mçi n¬i trªn thÕ giíi ®Òu cã nh÷ng phong tôc ®ãn TÕt kh¸c nhau, cã phong tôc tån t¹i vµ ph¸t triÓn, cã phong tôc l¹i mÊt ®i theo ®µ tiÕn ho¸ cña x· héi. Riªng phong tôc ®ãn TÕt cña d©n téc ta b¾t nguån tõ nh÷ng ®iÓn tÝch, huyÒn tho¹i xa x­a xem ra cã vÎ huyÒn bÝ. Nh­ng nÕu chóng ta t×m hiÓu kü sÏ thÊy nã mang nhiÒu ý nghÜa thùc tÕ.

Tôc cóng ¤ng T¸o

Th­êng lÖ vµo ngµy 23 th¸ng Ch¹p ©m lÞch, tõ thµnh thÞ ®Õn th«n quª, kh¾p n¬i trong n­íc ta d©n chóng lµm lÔ tiÔn ®­a ¤ng T¸o. Ng­êi x­a cho r»ng ngµy Êy vua BÕp lªn chÇu Trêi ®Ó t©u viÖc lµm ¨n, c­ xö cña gia ®×nh trong n¨m. Qua ®ã nãi lªn t×nh c¶m vµ lý trÝ cña nh©n d©n ta ®èi víi c«ng viÖc bÕp nóc, nh»m ®¸nh gi¸ cao viÖc ch¨m sãc dinh d­ìng cña ®êi sèng con ng­êi vµ ®¸nh gi¸ l¹i viÖc ¨n ë cña m×nh tr­íc khi b­íc sang n¨m míi.

Tôc dùng c©y nªu

Mét cæ tôc cña ngµy TÕt ViÖt Nam lµ tôc dùng c©y nªu. C©y nªu lµ mét c©y tre dµi chõng 2,5 ®Õn 3m dùng tr­íc s©n nhµ vµo tèi ®ªm giao thõa. Trªn ngän nªu cã buéc mét c¸i bïa b¸t qu¸i vÏ trªn giÊy ®á, mét chiÕc giá con ®ùng trÇu cau vµ nh÷ng èng s¸o, nh÷ng miÕng kim khÝ lín nhá… Khi cã giã va ch¹m vµo nhau chóng ph¸t ra nh÷ng tiÕng leng keng nghe rÊt vui tai. ë ®©y chØ riªng c¸i viÖc dùng nªu trong s©n ®Ó ®ãn «ng bµ tæ tiªn vÒ ¨n TÕt cïng gia ®×nh ®· nãi lªn ®­îc tÝnh d©n téc, thÓ hiÖn t×nh c¶m “uèng n­íc nhí nguån”. Giá trÇu cau treo ë c©y nªu nãi lªn ý nghÜa l©n bang, t×nh nghÜa xãm lµng (miÕng trÇu lµ ®Çu c©u chuyÖn, miÕng trÇu mêi kh¸ch ®Õn th¨m nhµ) vµ lßng yªu ©m nh¹c thÓ hiÖn ë nh÷ng nh¹c cô mua vui ®Çu xu©n treo trªn ngän nªu.

Tôc ch¬i hoa kiÓng

Hoa lµ linh hån, hoa lµ c¶nh s¾c thiªn nhiªn trang ®iÓm cho ®êi, nÕu thiÕu hoa th× cßn g× lµ ngµy TÕt n÷a. V× vËy ch­ng hoa kiÓng ngµy TÕt lµ mét nhu cÇu lµm ®Ñp cña d©n téc ta cã truyÒn thèng tõ ngµn x­a, h¬n n÷a nã cßn mang ®Ëm nhiÒu ý nghÜa.

Trªn bµn thê gia tiªn c¾m nh÷ng b«ng v¹n thä, tr­êng xanh… víi s¾c hoa vµng rùc, ®· nãi lªn ®­îc ®iÒu ­íc mong cña mäi ng­êi lµ n¨m míi khoÎ m¹nh vµ tr­êng thä. Ch­ng c©y hoa ®µo, hoa mai, víi s¾c ®á th¾m cña ®µo vµ nh÷ng c¸nh mai vµng rùc lµ nh÷ng ­íc m¬ hy väng vÒ sù ®æi míi cña mäi ng­êi, cña gia ®×nh, cña Tæ quèc – thÓ hiÖn phong c¸ch l¹c quan, tù tin.

Tôc ch­ng m©m ngò qu¶

Ngµy TÕt, ngoµi c¸c thøc ¨n cóng «ng bµ tæ tiªn trªn bµn thê nhÊt thiÕt ph¶i ch­ng m©m ngò qu¶. Chuèi lµ c¸i nÒn cho m©m ngò qu¶, thø ®Õn lµ b­ëi hoÆc phËt thñ, hai lo¹i nµy b¾t buéc ph¶i cã. Ba lo¹i cßn l¹i th× tuú lo¹i qu¶ cã ë mçi vïng kh¸c nhau. Nh­ng chung l¹i, m©m ngò qu¶ lµ nh÷ng lo¹i tr¸i c©y chøa nhiÒu chÊt dinh d­ìng, ®¸p øng ®ñ cho nhu cÇu ho¹t ®éng cña con ng­êi. V× vËy, ch­ng m©m ngò qu¶ ngµy TÕt lµ mét ý nghÜa nãi lªn ­íc väng cña gia ®×nh b­íc sang n¨m míi ®­îc no ®ñ.

Tôc chóc TÕt

TÕt Nguyªn ®¸n lµ nh÷ng ngµy trang träng, vui t­¬i nhÊt cña d©n téc ta. Còng lµ dÞp ®Ó mäi ng­êi cã ®iÒu kiÖn th¨m hái lÉn nhau: con ch¸u th¨m hái cha mÑ, chó b¸c, «ng bµ; häc trß th¨m hái thÇy c«; gÆp mÆt b¹n bÌ chóc tông…

“Mång mét lµ TÕt nhµ cha”: S¸ng mång mét TÕt, sau khi lÔ gia tiªn, ng­êi con (hoÆc d©u hoÆc tr­ëng) mêi cha mÑ ngåi vµo hai ghÕ tùa ë gi÷a nhµ, c¸c con ch¸u ®øng theo thø tù ng«i thø: anh chÞ tr­íc, c¸c em sau, sau cïng lµ c¸c ch¸u, mäi ng­êi ®Òu mõng thä vµ tÕ sèng «ng bµ, cha mÑ b»ng hai l¹y vµ hai v¸i (ng­êi chÕt th× bèn l¹y, bèn v¸i). ¤ng bµ còng mõng tuæi c¸c con ch¸u b»ng phong bao ®­îc gãi b»ng giÊy hång ®iÒu.

“Mång hai nhµ mÑ”: S¸ng mång hai TÕt, cha mÑ dÉn ®oµn con ch¸u vÒ quª ngo¹i chóc tÕt. TuÇn tù lÔ t­ëng niÖm tæ tiªn: mõng thä «ng bµ ngo¹i theo nghi thøc ë nhµ cha, mõng tuæi bµ con th©n thÝch bªn ngo¹i vµ ®­îc mõng tuæi l¹i. C¶ hai gia ®×nh cïng chuyÖn rß vui vÎ vµ ¨n cç ®Çu xu©n, cµng lµm cho t×nh nghÜa hai gia ®×nh thªm th¾m thiÕt.

“Mång mét lµ TÕt nhµ cha, Mång hai nhµ mÑ…” – ®iÒu ®ã chøng tá «ng cha ta rÊt coi träng ch÷ hiÕu, chän hai ngµy ®Çu n¨m ®Ó t­ëng nhí c«ng ¬n sinh thµnh, d­ìng dôc cña cha mÑ hai gia ®×nh néi, ngo¹i v× hiÕu th¶o lµ gèc cña ®¹o ®øc gia ®×nh.

“…Mång ba TÕt thÇy”: C«ng ¬n cha mÑ sinh thµnh, d­ìng dôc, c«ng ¬n thÇy gi¸o dôc t­ c¸ch ®¹o ®øc, më mang trÝ tuÖ cho m×nh, v× thÕ “c«ng cha, nghÜa mÑ, ¬n thÇy” ®Òu ®­îc nh©n d©n ta coi träng.

Tôc chóc TÕt lµ mét nÐt ®Ñp v¨n ho¸ thÓ hiÖn ®­îc lßng quan t©m lÉn nhau, chung vui xu©n vµ ®em tÆng nhau ý lµnh, lêi ngäc vµ niÒm hy väng tèt ®Ñp cho nhau.

Sau cïng nh÷ng kiªng c÷ ngµy TÕt nh­: cha mÑ nhÞn quë m¾ng, anh em nhÞn c·i nhau… lµ nh÷ng ý muèn tèt lµnh, nh©n ¸i thÓ hiÖn nÕp sèng v¨n minh vµ gia ®×nh cã v¨n ho¸.

Phong tôc ngµy xu©n lµ nh÷ng nÐt ®Ñp cña ®Êt n­íc, cña d©n téc lu«n sèng m·i víi thêi gian. §©y lµ nh÷ng phong tôc ®Ñp cña nh©n d©n ta ®· coi träng ©n s©u vµ th¸i ®é øng xö tinh tÕ cã nghÜa, cã t×nh trong ®êi sèng.

     

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s